Thứ tư, 15/08/2018 03:52 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Nghe tiếng lộc nảy mầm

17/02/2013, 08:30 (GMT+7)

Xuân đến, những hàng cây trút bỏ xiêm y khi vào đông bắt đầu bật lá. Những nụ cây nhu nhú nhỏ li ti tách ra từ lớp vỏ sần sì.

Xuân đến, những hàng cây trút bỏ xiêm y khi vào đông bắt đầu bật lá. Những nụ cây nhu nhú nhỏ li ti tách ra từ lớp vỏ sần sì.

Những nụ mầm mầu tim tím lớn lên từng giây, từng giờ, từng ngày. Trong làn mưa bụi, từng nụ mầm bật lên khao khát và chờ đợi. Chỉ một tuần, một tháng nữa thôi, cây lại xanh rờn sắc xanh quyến rũ. Sắc xanh trong mầu áo của người lính tôi mang. Sắc xanh trong nỗi mong ước của mẹ ngày nào khi tôi xa nhà bước vào chặng đường người gian khó. Sắc xanh của ước mơ ngồi trên ghế giảng đường được dâng hiến tuổi đôi mươi. Sắc xanh lớp rong giấu mình trong làn nước ngày nào tôi cùng cha đẩy con thuyền đi thả lưới trên khúc Rủ, khúc Trầm, khúc Cô đơn, khúc Trinh nữ. Còn đó, vẹn nguyên những sắc xanh của kỷ niệm và ký ức một thời vất vả nhọc nhằn.

Tôi đã đi qua ba tư năm đời quân ngũ. Ba tư năm quân ngũ là ba tư năm tôi sống trong những kỷ niệm buồn tủi nhưng ngọt ngào. Buồn tủi vì những khó khăn vất vả, vì những trắc trở của đời đã đổ xuống tôi. Nhưng dẫu có đắng đót đến đâu, dẫu đời có gian lao đến đâu tôi vẫn đi qua, bởi tôi được hưởng những dư vị ngọt ngào của năm tháng đã qua trong cái nắm tay rất chặt và ấm áp của đồng đội. Những năm tháng nhọc nhằn nhưng xiết bao thương nhớ. Tất cả đều được chính mầu xanh, sắc xanh đến vô cùng của tình người nâng đỡ và vực tôi đi. Sắc xanh của tình yêu và sắc xanh của niềm tin, sắc xanh của hy vọng.

Lại nhớ, những năm tháng ở rừng Lào Cai khi vừa tốt nghiệp Đại học Biên phòng lên biên giới. Cả một thị xã ven sông chỉ còn duy nhất một ngôi nhà ấy là đồn biên phòng. Khi nhận nhiệm vụ từ Bộ chỉ huy đóng ở ki lô mét số 3 đường đi Bảo Thắng. Phạm Diển, sĩ quan ở phòng tham mưu, người cùng làng đưa ra đến đầu cổng bảo: Chú cứ đi đường này, bao giờ thấy sông trước mặt, có lá cờ Tổ quốc thì chú vào đó. Sau này, khi về làm báo, cứ mỗi độ có phóng viên đi công tác biên giới, tôi lại dặn: Nếu đi biên giới, cứ chỗ nào có cờ Tổ quốc thì vào. Ở đó, nếu cần cái gì sẽ được giúp đỡ. Nơi đó là quê hương, đất nước.

Theo chỉ dẫn của Phạm Diển, thế là tôi cứ men theo bờ sông Hồng mà đi. Hết theo đường tàu chở quặng rồi lại lần theo con đường một thời chạy vào thị xã Lào Cai nay nham nhở những ổ gà và những hố mìn chống tăng hay hố đạn pháo. Vừa đi, tôi lẩm nhẩm hát lời “Gửi em ở cuối sông Hồng”. Giai điệu bài hát, ca từ của ca khúc cứ như nỗi niềm của tôi. Nơi xa ấy, cuối con sông Hồng, vùng đất đồng bằng Bắc bộ là mẹ, là cha, là anh em và người yêu tôi đang sống. Nỗi nhớ như con sóng vỗ bờ khôn nguôi qua đêm, qua ngày, qua tháng năm chờ đợi. Có con sóng của nỗi nhớ bộc thành con chữ trên dòng thư, thành tiếng gọi nhau ngày chia tay của người yêu thương. Cũng có nỗi nhớ như con sóng ẩn sâu, cứ lặng lẽ nhớ thương, lặng lẽ trông chờ và hy vọng như nỗi nhớ của cha cứ đằm như núi. Dù con sóng của nỗi nhớ trong lòng sâu hay trên mặt nước, vẫn cứ là con sóng mà tôi khao khát và đợi chờ, là chất kết dính cho tôi sức sống như dòng nhựa trong lớp vỏ cây sau đông bật lên mầm, nụ và ra hoa.

Khi tôi đến cổng đồn. Vừa thấy tôi đeo quân hàm xanh, anh em ùa ra đón. Mặc dù tôi là sĩ quan, anh em chủ yếu đeo quân hàm từ hạ sĩ đến thượng sĩ nhưng cứ coi nhau như bạn bè người thân lâu ngày gặp lại. Vô tư đi. Khi đã lên đây, chỉ toàn lính với nhau, cái khoảng cách dường như không còn chỗ, chỉ có một tình lính chiến xa nhà là trên hết. Ba lô có gì dốc hết. Nhưng món khoái nhất là thuốc lào. Chiếc điếu ục làm bằng ống tre luồng, khi hút, nhệch mồm, méo cả mặt, cổ gân xanh gân đỏ nổi hết vẫn chưa thấy khói. Lấy hơi, làm hơi nữa mới thấy khói đi vào. Thuốc lào ngon, hút chỉ hết nửa mồi thuốc đã đưa tay, chuyền vội cho người kế bên, lăn quay ra đất. Chiếc điếu chuyển tay nhau hút đến cháy cả nõ. Tỉnh dậy lại kéo điếu vào lòng, làm thêm vài ba vê cho bõ nhớ.

Đêm ấy tôi không ngủ được, lặng lẽ ra bờ sông Hồng nhìn về hạ lưu. Mấy anh em gác cùng đi ra theo. Không ai nói với ai điều gì, chỉ lặng nghe tiếng sóng vỗ bờ loạp xoạp. Tiếng vỗ nhẹ mà da diết, êm đềm mà khắc khoải biết bao.

Sáng ra, tôi lại ra bờ sông ngóng về phía xuôi. Nơi ngã ba con sông, nơi bắt đầu câu hát “Anh ở biên cương, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”, phía Đông, dòng Nậm Thi trong vắt, êm đềm không một gợn sóng. Còn phía Tây, dòng sông Hồng đỏ quạch, cuồn cuộn sóng. Dòng Nậm Thi và dòng sông Hồng chập vào nhau nơi ngã ba làm thành con sông có hai màu xanh và đỏ. Cứ thế sông chảy xuôi về biển để rồi, thành một màu au au phù sa. Dưới kia, nơi bãi bồi, cồn nổi, có vành nón trắng ai nghiêng nghiêng che nỗi đợi chờ, có ai giấu trong nhịp chèo lời hẹn tuổi đôi mươi khua rối nhịp trong sắc xuân mong ngóng chờ miếng trầu nên duyên.

Rồi năm đó, chiều 30 tết, chúng tôi gồm Trải, Nam, Tho, Trường nhận lệnh đi tuần. Những rừng cỏ chỉ xanh ngăn ngắt cao ngập đầu người. Những rừng mỡ mới trồng vỏ trắng phau phơi trong làn mưa bụi đầu xuân miền biên giới. Cánh rừng già che chắn ngôi đền Thượng. Bờ lau khoe bông trắng soi bóng bên bờ sóng. Tất cả gặp cái giá, sương muối, lá quăn lại như tổ sâu tránh rét. Vào những ngày nắng ấm, cả khu rừng sau đồn rộn tiếng chim. Thế mà hôm nay, tiếng chim cũng vắng, nếu có con chim nào nhớ tiếng hót cất tiếng, giọng hót cũng có cảm giác không vang xa, vón cục rơi bên lối tuần tra. Trong giá buốt, chúng tôi vẫn đi, tay nắm tay nhau vượt suối băng rừng để truyền hơi ấm cho nhau đỡ giá, bớt cóng. Khẩu súng trên tay, chiếc ba lô trên lưng đọng những hạt nước long lanh theo bước chân người lính. Mùi xoài chín rụng bên chân dốc lên đền Thượng thoang thoảng thơm như gọi như mời.

Tối tôi cùng mấy anh em trong đội vũ trang lên điểm tựa trên đỉnh núi Đổ trực. Gần giao thừa, tất cả xuống chiến hào vì phòng khi lợi dụng tiếng pháo nổ, thám báo xâm nhập bất ngờ. Ôm súng, tựa lưng vào vách. Nhẹ và rất êm, tiếng sương rơi tí tách trên lá rừng. Những hạt sương vỡ ra, những bụi nước nhỏ li ti rơi xuống, bắn vào mặt, vào tay lành lạnh. Rồi tôi nghe đâu đây, thoảng trong gió, la đà trong gió mà ấm nồng như nụ hôn trước lúc chia tay. Tiếng động rất nhỏ, mảnh như sợi tơ trời, mong manh như cánh đào, tiếng tạch tạch cùng mùi thơm của nhựa cây. Đó là tiếng nụ tách vỏ bật mầm.

Năm nay xuân đến vừa tròn ba mươi năm ngày tôi lên biên giới. Ba mươi năm đã xa, thị xã Lào Cai bây giờ chắc đã khác. Trên đỉnh núi Đổ, nơi có điểm tựa của chúng tôi ngày đó liệu có còn không? Rặng nhãn bên bờ dòng Nậm Thi nay có còn thì thầm gửi lời về xuôi câu hẹn ước? Những dãy hào nơi đêm đêm chúng tôi tựa lưng bên vách nghe tiếng hạt nảy mầm, tiếng nụ đâm lộc cũng có còn không? Những bông lau trắng phơ phất bay một thuở nay còn có như vẫy như gọi người về? Tôi không biết chắc tất cả những gì của năm tháng cũ đã ra sao. Nhưng còn tôi, vẫn giữ thói quen, cứ đêm giao thừa, mỗi độ xuân về, lại tìm đến hàng cây, lắng tai nghe tiếng nụ bật mầm từ những thân cây xù xì và mốc thếch. Tôi muốn gặp lại hơi ấm nồng và mùi nhựa cây thơm thơm đã nuôi nụ cây cho bật mầm mang sức sống cho mỗi mùa xuân tới. Nhựa sống ấy đã và sẽ còn chảy mãi trong suốt cuộc đời quân ngũ tôi qua, làm nên nhựa sống con người.

PHẠM THANH KHƯƠNG

Đang được quan tâm

Gửi bình luận