Đường dây nóng : 091.352.8198

Điều kiện và ràng buộc pháp lý với việc mang thai hộ

Cần chú ý là thỏa thuận mang thai hộ của các bên phải được lập thành văn bản có công chứng của đủ các bên có liên quan, nếu có ủy quyền cũng chỉ là vợ chồng ủy quyền cho nhau, không ủy quyền cho người thứ ba./ Chính thức cho phép mang thai hộ

Tin bài khác

* Việc mang thai hộ được cho phép tại Việt Nam từ 1/1/2015. Vậy về phía người được nhờ mang thai hộ phải đáp ứng những điều kiện gì và sự ràng buộc pháp lý nào giữa những người có liên quan?

Đỗ Thu Hiền, Vụ Bản, Nam Định

Lần đầu tiên việc mang thai hộ được cho phép tại Việt Nam từ 1/1/2015. Theo bà Trần Việt Thái, Trưởng phòng Phổ biến giáo dục pháp luật, Sở Tư pháp TP.HCM thì đối với người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện là người thân thích cùng hàng với bên vợ hoặc bên chồng người nhờ mang thai hộ (cùng hàng tức là có mối quan hệ ngang hàng, là chị hoặc em); đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; nếu có chồng thì phải được người chồng đồng ý bằng văn bản.

Cần chú ý là thỏa thuận mang thai hộ của các bên phải được lập thành văn bản có công chứng của đủ các bên có liên quan, nếu có ủy quyền cũng chỉ là vợ chồng ủy quyền cho nhau, không ủy quyền cho người thứ ba.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình, việc cho phép mang thai hộ là nhằm mục đích nhân đạo, chỉ áp dụng cho vợ chồng khó khăn trong việc sinh con.

Đối tượng độc thân không được nhờ mang thai hộ. Luật không cho phép việc mang thai hộ là một nghề, những quy định chặt chẽ trong việc mang thai hộ cũng nhằm chống mua bán người. Luật quy định người nhờ mang thai hộ không được từ chối việc nhận con.

Nếu không, người mang thai hộ có quyền yêu cầu tòa án buộc người nhờ mang thai hộ phải nhận con. Ngược lại, bên mang thai hộ cũng không được phép giữ con vì luật quy định việc mang thai hộ không làm phát sinh mối quan hệ mẹ con. Khi xảy ra tình huống này, người nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu tòa án buộc người mang thai hộ phải giao con.

 Còn về tài sản, trước đây luật chỉ quy định một chế độ tài sản duy nhất của vợ chồng là tài sản chung trừ trường hợp là có xác nhận tài sản riêng.

Cách quy định như vậy chưa thực sự đảm bảo cho vợ chồng được quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt đối với tài sản của mình trước khi kết hôn cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi bên. Lần này luật bổ sung thêm chế độ “tài sản theo thỏa thuận”.

Có nghĩa là luật cho phép hai bên thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì phải lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản này có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn...

 Các thỏa thuận này các bên có thể thay đổi trong quá trình hôn nhân. Trong quá trình làm luật cũng có người lo ngại là quy định này không phù hợp phong tục tập quán và văn hóa của nhân dân ta. Tuy nhiên, không ít ý kiến phân tích rằng đối với vấn đề tài sản thì càng rành mạch càng tốt, nhất là khi có sự cố trong hôn nhân thì việc có một thỏa thuận trước đó sẽ tránh được nhiều rắc rối, thiệt hại cho các bên.

Việc thỏa thuận tài sản trước khi kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi cho cả hai bên vợ chồng về vấn đề tài sản trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa họ. Hơn nữa luật cho phép các bên có thể lựa chọn hình thức này chứ không quy định duy nhất chỉ có chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Do đó tôi cho rằng quy định này phù hợp với cuộc sống thời đại và thuận lợi khi hội nhập quốc tế. Vấn đề là cả hai bên cần áp dụng phù hợp và hướng đến một lối sống đẹp, văn minh.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
gs.ts nguyễn lân dũng
Bình luận Gửi phản hồi