Đường dây nóng : 091.352.8198

Người xưa giữ biển: Phòng thủ đầm Thị Nại

Đầm Thị Nại nằm chắn mặt biển Đông, cửa ngõ ra vào Bình Định bằng đường biển là nơi đã từng diễn ra nhiều trận thủy chiến ác liệt, quyết định số phận nhiều vương triều: Chăm Pa, Tây Sơn, triều Nguyễn…/ Uy trấn Tam Tòa

Người xưa giữ biển: Phòng thủ đầm Thị Nại
Những khẩu súng thần công trục vớt được tại đầm Thị Nại đang được trưng bày tại Bảo tàng Tổng hợp Bình Định
Tin bài khác

Những trận thủy chiến nảy lửa

Về mặt chiến lược, đầm Thị Nại là cửa ngõ ra vào Bình Định bằng đường thủy. Do đó, triều đại nào cũng xây dựng hệ thống phòng thủ tại đây để trấn giữ vùng biển.

Từ thời Chăm Pa, tại đây đã được xây dựng thành Thị Nại. Thời Tây Sơn, bản doanh của thủy quân cũng được đặt tại đầm Thị Nại và núi Tam Tòa. Khi ấy, thành Thị Nại gánh trên vai trọng trách là tiền đồn bảo vệ cho kinh đô Đồ Bàn của Chăm Pa, nên các cuộc tấn công bằng đường thủy thường lấy thành này làm đích.

Trận thủy chiến đầu tiên tại thành Thị Nại được sử sách còn lưu là trận chiến chống quân Nguyên Mông do Toa Đô chỉ huy xâm lược vương triều Chăm Pa vào cuối năm 1282. Lực lượng thủy binh của Toa Đô quá hùng hậu, chiến thuyền quá hung hãn nên quân Chăm Pa đành phải rút quân khỏi thành Thị Nại.

Đến năm 1470, tại thành Thị Nại lại diễn ra trận thư hùng bằng thủy chiến khác. Trận đánh này do vua Lê Thánh Tông cầm 20 vạn quân tấn công thành Thị Nại, vì yếu thế, vua Chăm Pa là Trà Toàn phải bỏ thành, rút binh.

 Sau đó, quân của vua Lê Thánh Tông tràn về phía Bắc hạ thành Đồ Bàn, kết thúc vương triều Chăm Pa. Từ đó, vùng đất Bình Định ngày nay được nhập vào Đại Việt.

Từ năm 1792 đến 1801 là thời gian đầm Thị Nại dậy sóng dữ dội nhất. Khi ấy, thủy quân của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn đã có đến 5 lần “đụng độ” tại cửa biển này. Trong các trận đánh diễn ra vào năm 1792-1793, thủy quân Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại nhưng đều phải lui binh vì gặp hệ thống phòng thủ quá vững chãi.

Lần thứ 3, năm 1799, thủy quân của Nguyễn Ánh được bổ sung lực lượng hùng hậu, vượt qua được cửa Thị Nại, đánh chiếm luôn thành Hoàng Đế.

Năm sau, quân Tây Sơn từ kinh thành Phú Xuân (Huế) do Trần Quang Diệu chỉ huy vào đánh lấy lại thành Thị Nại, giao cho Võ Văn Dũng trấn thủ, sau đó kéo quân vây đánh thành Hoàng Đế.

Chưa hết, năm 1801, Nguyễn Ánh cho đại binh ra đánh Thị Nại nhằm lấy lại thành Hoàng Đế từ tay nhà Tây Sơn. Đây là trận chiến được sử sách ghi nhận là lớn nhất từ trước đến nay tại đầm Thị Nại.

Trong sách “Nhân vật Bình Định”, tác giả Đặng Quý Địch (hiện ở tại thị trấn Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định) dẫn lại tư liệu của một người ngoại quốc có mặt trong đoàn quân của Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại, đó là ông Barizy, khẳng định lực lượng thủy quân của nhà Tây Sơn tại cửa Thị Nại khi ấy gồm có 557 tàu chiến lớn nhỏ, 1.827 đại bác lớn nhỏ và 53.250 thủy quân.

 Thủy quân của nhà Nguyễn có 91 thuyền chiến, 91 đại bác, 10.400 thủy quân và lực lượng hùng hậu bộ binh từ Phú Yên đánh giáp công.

Cũng theo tư liệu này, thủy quân hai bên đụng độ nhau rất nảy lửa vào đêm rằm tháng Giêng năm Tân Dậu (1801). Quân Nguyễn tập kích rất bất ngờ, đốt rất nhiều thuyền chiến của quân Tây Sơn. Các chiến thuyền và súng pháo của hai bên “quần” nhau đến chiều ngày 16 tháng Giêng thì quân Tây Sơn bị vỡ trận.

Tướng Tây Sơn Võ Văn Dũng dẫn thủy quân rút binh. Trận này, 4.000 quân của Nguyễn Ánh bị thương. Thuyền chiến của thủy quân Tây Sơn bị đốt gần hết.

“Ngày nay, người dân và các cơ quan chức năng đã trục vớt 14 khẩu súng thần công được làm bằng chất liệu đồng tại đầm Thị Nại. Đó là là những chứng tích còn lại của trận thủy chiến giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn xảy ra vào năm 1801.

Chắc chắn trong khu vực đầm Thị Nại còn rất nhiều vật tích liên quan đến những trận chiến này nên cần phải được tìm tòi, nghiên cứu thêm”, TS. Đinh Bá Hòa, GĐ Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, nói.

Tường thành dưới lòng biển

Hiện nay, tại vùng biển ven bờ thuộc xã Nhơn Hải (TP. Quy Nhơn, Bình Định) còn dấu tích một bờ thành dài, chìm trong lòng biển. Chỉ khi nào nước thủy triều xuống cạn bờ thành mới nhô lên.

Bờ thành này nối liền từ vách đá nằm trên địa bàn thôn Hải Nam ra đến đảo Hòn Khô thuộc thôn Hải Đông. Bề mặt thành hình phẳng, rộng đến hơn 10 m. Do ngập dưới lòng biển nên độ cao của thành chưa ai xác định được.

Tiết lộ của nhiều ngư dân làm nghề thợ lặn ở xã Nhơn Hải cho thấy, việc xây dựng bờ thành này rất kỳ công. Qua quan sát của các thợ lặn, bờ thành này không phải được xây bằng đá hoặc gạch, mà là một khối vữa đông kết nguyên khối.

Tại thôn Hải Giang thuộc xã Nhơn Hải nằm cách bờ thành nói trên hơn 5 km cũng có bờ thành chìm dưới lòng biển. Khi thủy triều xuống sẽ lộ ra một đoạn bờ thành dài hơn 3 km, nằm gần bờ. Người dân địa phương gọi đoạn bờ thành này là Rạng Cầu.

09-59-28_3
Bờ thành nằm dưới lòng biển thuộc xã Nhơn Hải (Quy Nhơn, Bình Định)

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã từng giải thích chữ Thị Nại như sau: Thị Nại có âm gốc tiếng Chăm Pa, âm gọi đầy đủ là Thi Lị Bi Nại, tên phiên âm chữ Cri-Banoi là tên hải cảng của Vương quốc Chăm Pa. Từ vương triều Chăm Pa đến vương triều Tây Sơn, Thị Nại có vai trò rất quan trọng, vừa là quân cảng có vị trí chiến lược quan trọng, vừa là thương cảng rất sầm uất.

Theo các nhà chuyên môn, hai đoạn bờ thành này có kết cấu giống nhau, nên có ý kiến cho rằng đó là 2 đoạn của bức một tường thành kéo dài. Mãi đến bây giờ, chưa có ai khẳng định chính xác chiều dài của tường thành này.

Vùng núi nằm trên địa bàn thôn Hải Giang còn có một bức tường lũy được làm bằng đá kéo dài, bao quanh đỉnh núi Tam Tòa thuộc hệ thống núi Phương Mai thuộc khu vực Hải Minh (phường Hải Cảng, TP. Quy Nhơn).

Lũy được xây dựng bằng cách xếp chồng những viên đá núi có nhiều kích cỡ khác nhau. Ở những nơi còn nguyên vẹn, chiều cao của lũy đá khoảng từ 1-1,5 m, đáy rộng 2 m, bề mặt rộng 1,2 m.

Theo TS. Đinh Bá Hòa, bờ thành dưới lòng biển ở xã Nhơn Hải và bức tường lũy đá trên núi Tam Tòa là những công trình phòng vệ bờ biển khác nhau.

Theo thư tịch cổ để lại thì các vương triều Chăm Pa đã xây dựng 4 thành lớn tại Bình Định, bao gồm thành Thị Nại (huyện Tuy Phước), thành Đồ Bàn (TX. An Nhơn), thành Chas (TX. An Nhơn) và thành Uất Trì (huyện Tây Sơn). Ngoài ra, người Chăm Pa còn xây dựng một số thành nhỏ khác mà sử sách ít nhắc đến.

Tuy nhiên, mãi đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa phát hiện có tư liệu nào nhắc đến bờ thành được xây dựng ở vùng biển Nhơn Hải. “Bờ thành ở Nhơn Hải là một di tích rất bí ẩn, tường thành nằm dưới nước hàng trăm năm qua vẫn còn nguyên vẹn. Điều này cho thấy kỹ thuật xây dựng của người Chăm Pa vừa cao siêu, vừa độc đáo”, TS. Đinh Bá Hòa, nói.

Cũng theo TS. Đinh Bá Hòa, sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ” có ghi, vào tháng 8 năm Canh Tí (1840), vua Minh Mạng cho xây dựng pháo đài Hổ Ky ở cửa biển Thị Nại. Để dựng nên pháo đài này, nhà cầm quyền thời ấy đã phải huy động trên 500 dân phu tham gia xây dựng.

Để hỗ trợ cho việc phòng thủ pháo đài Hổ Ky, vua Minh Mạng còn cho xây dựng trên đỉnh núi Phương Mai một hệ thống tường lũy. Hệ thống tường lũy này được xây dựng tại 2 nơi riêng biệt để yểm trợ lẫn nhau, đó là gò Vũng Tàu và gò Kinh Để.

Phòng tuyến gò Kinh Để có trọng trách ngăn chặn quân địch tiến vào từ sườn phía Đông để tấn công pháo đài Hổ Ky nhằm đánh chiếm cửa Thị Nại. Còn phòng tuyến gò Vũng Tàu có nhiệm vụ ngăn quân bộ tấn công mặt phía Tây của pháo đài Hổ Ky để chiếm cửa biển Thị Nại. (Hết)

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
DƯƠNG LAM
Bình luận Gửi phản hồi