Đường dây nóng : 0913.378.918

Thủy lợi - Bản tình ca của đất và nước

Tôi còn nhớ, từ thuở quàng khăn đỏ cắp sách đến trường, tôi đã được nghe đến hai tiếng thuỷ lợi, đã được trực tiếp đi làm thuỷ lợi.
Tin bài khác

Tôi còn nhớ, từ thuở quàng khăn đỏ cắp sách đến trường, tôi đã được nghe đến hai tiếng thuỷ lợi, đã được trực tiếp đi làm thuỷ lợi.

Quê tôi, một vùng đồng chiêm bên dòng sông Kẻ Sặt thơ mộng. Dòng sông thì thơ mộng, vậy mà bao đời rồi cánh đồng vẫn chịu cảnh “chiêm khê mùa thối”. Chúng tôi lớn lên với ruộng đồng, theo cha anh đi gánh đất, đào mương khi tay còn chưa cầm vững cái mai, chân chưa kịp bám chắc vào đất! Ôi cái ngày xưa ấy, cái ngày của phong trào đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải, ở quê tôi sao mà hồ hởi, quyết tâm, sao mà hăng say đến thế!

Lũ trẻ con chúng tôi chỉ có khoai luộc, cơm nắm, rau lang chấm muối vừng mà cũng thi nhau ra công trường Cầu Sộp vác đất, gánh gạch xây cống, đào kênh với các “cô, chú 202” dưới trời nắng chang chang. Nước về ruộng đồng, reo vui bên từng gốc lúa, miên man chảy trong giấc mơ tuổi thơ tôi theo cánh cò bay xa…Tôi xa quê, ra đi trong đoàn quân “những người lính chân đất” mà lòng rộn rã, phơi phới niềm tin vào công cuộc trị thuỷ, chinh phục thiên nhiên của ngành thuỷ lợi nước nhà. Dấn thân vào con đường “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” đầy gian nan và thử thách, tôi càng hiểu hơn giá trị của nước - nguồn tài nguyên quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất.

"Đất nước ta có nguồn tài nguyên nước khá phong phú, tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm của nước ta khoảng 847 tỷ m3 nước (đứng thứ 12 trên thế giới), trong đó tổng lượng dòng chảy bên ngoài vào là 507 tỷ m3 (chiếm khoảng 60%) và dòng chảy nội địa là 340 tỷ m3. Tuy nhiên, do phân bố mưa và dòng chảy không đều theo không gian, thời gian, mùa mua lại trùng vào mùa bão, nên từ xa xưa đất nước ta đã phải đối mặt với bão lụt, úng hạn".
Với tổng lượng dòng chảy năm 847 tỷ m3 nước, được cung cấp bởi 13 hệ thống sông chính, phân bố khá đều từ Bắc vào Nam, như hệ thống sông: Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả, Vu Gia - Thu Bồn, sông Sê San, Sê rê Pôk, sông Ba, Đồng Nai và Cửu Long (Mê Công)... Ấy vậy mà nhiều năm qua, hạn hán vẫn hoành hành dữ dội, nạn thiếu nước luôn là một thách thức lớn.

Nước ta với nền chủ yếu là lúa nước, điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, hạn hán, lũ lụt xẩy ra thường xuyên, bởi vậy công tác thủy lợi có vị trí vô cùng quan trọng như lời dạy của Bác Hồ đối với những người làm công tác thủy lợi: "Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là Đất Nước; có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh…Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hoà với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội".

Trải qua bao thời kỳ lịch sử, thủy lợi -  hai tiếng nghe như khô khan mà thân thương, bình dị đã gắn bó máu thịt với bà con nông dân, với số phận biết bao con người mang trên mình “áo bông, quần cộc” trong cuộc chiến với hạn hán, lũ lụt để bảo vệ, phát triển sản xuất, bảo vệ đời sống nhân dân và duy trì, phát triển xã hội. Theo năm tháng gian nan, nhiều công trình thuỷ lợi đã được xây dựng ở khắp mọi miền của Tổ quốc, để lại những dấu ấn về ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam, trong quá trình chinh phục thiên nhiên.

Còn nhớ, năm 1945 cả nước mới có 13 hệ thống thuỷ nông lớn và vừa, đảm bảo tưới cho 324.900 ha, tiêu 77.000 ha thì đến nay cả nước đã xây dựng được hàng trăm hệ thống thuỷ nông lớn và vừa, hơn 500 hồ đập lớn và hàng ngàn công trình thuỷ lợi nhỏ, đảm bảo tưới cho gần 4 triệu ha đất nông nghiệp, tiêu cho hơn 1,5 triệu ha. Nhiều công trình thuỷ lợi lớn mang tầm quốc tế, đem lại hiệu quả cao, đã mọc lên, đã vươn lên, sừng sững trên bản đồ hình chữ S như: Hồ Dầu Tiếng, hồ Phú Ninh, Thác Bà, Kẻ Gỗ, Sông Sào, Núi Cốc, Ayun hạ, Nước Trong, Cửa Đạt… Đặc biệt, ở vùng đồng bằng sông Hồng - vựa lúa lớn của miền Bắc đó được “thuỷ lợi hoá” sớm và ở mức cao. Nhắc đến vùng châu thổ mỡ màu này, người dân nơi đây thường nhắc tới những cái tên: Bắc Hưng Hải, 6 trạm bơm lớn của Nam Định - Hà Nam như: Cổ Đam, Cốc Thành, Hữu Bị, Vĩnh Trị, Nhâm Tràng, Như Trác…Những cái tên nghe thật gần gũi, vời vợi đồng chiêm, gắn với nỗi khổ đau nơi “sống ngâm da, chết ngâm xương” thuở xa xưa và “thiên đường đồng bằng” bây giờ.

Những năm gần đây, tôi đã từng đi khảo sát thực tế nhiều vùng quanh “rốn nước đồng chiêm” trên quê hương cụ Nguyễn Khuyến, tuyệt chẳng còn thấy "bóng thuyền thấp thoáng dờn trên vách” nữa, mà chỉ thấy nhà tầng nhà ngói san sát mọc lên, vươn cao giữa bát ngát đồng xanh. Tôi cũng đã từng lặn lội, ngang dọc Tây Bắc, Tây Nguyên đi tìm nguồn nước, đội nắng dầm mưa cùng đồng nghiệp trên công trường thuỷ lợi đầy nắng gió, để có được giây phút thật cảm động khi bắt gặp nụ cười rạng rỡ như hoa ban của cô gái Mường Lũ, hay ánh mắt rực sáng như lửa rừng của già làng Buôn Đôn trong ngày vui khánh thành công trình thuỷ lợi. Sung sướng làm sao, hạnh phúc biết bao khi những người đi xây hồ, đắp đập chúng tôi nhận được cái bắt tay run run, nghe lời cảm ơn chân tình từ chính những bà con nhân dân vùng hưởng lợi!

Những lúc đó, dường như tôi bỗng quên đi bao khó khăn, vất vả ngày thường, lòng thầm nhớ tới những bậc tiền bối đã có nhiều công lao đóng góp cho ngành Thuỷ lợi như các ông: Trần Đăng Khoa, Nguyễn Thanh Bình, Hà Kế Tấn, Nguyễn Văn Cung, Đinh Gia Khánh; các chị: Vũ Thị Tỵ, Phạm Thị Vách… và biết bao chiến sỹ đã hy sinh trên mặt trận thuỷ lợi thầm lặng trong suốt chặng đường qua, trên mọi miền Tổ quốc để tô đẹp cho hai chữ Thuỷ lợi. Những lúc đó, tôi cứ thấy lòng mình rưng rưng. Những hình ảnh của một thời đói nghèo, lam lũ thuở xưa lại hiện về trong tâm trí tôi. Làm sao có thể quên được những chân ruộng nẻ trắng có thể đút vừa cả bàn chân trong mùa khô hanh, nhưng lại mênh mông nước, phải đi bằng thuyền trong mùa mưa. Làm sao có thể quên được những tháng ba ngày tám với bát cơm độn rau má, khoai lang, bưng lên miệng mà lòng xót xa. Đáng quý mà đáng thương biết bao những bà mẹ quê nghèo, trong đó có mẹ tôi, với tấm áo nâu sồng lầm lũi ra đồng sớm hôm, những mong nước về ruộng khoán!

Tất cả, tất cả đó đi vào quá khứ nhưng lại hiện ra trong bức tranh đẹp của bộ mặt nông thôn ngày hôm nay mà một phần không nhỏ là nhờ có thuỷ lợi! Nhờ đảm bảo chủ động tưới tiêu, năng suất lúa ở nhiều địa phương tăng vọt. Tổng sản lượng lúa của cả nước tăng lên hàng năm với con số “chóng mặt”. Chỉ tính riêng vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long – nơi điển hình về chua phèn, ngập mặn, những năm gần đây đã đạt tới sản lượng trên 20 triệu tấn là điều “ngỡ như mơ”. Do có hiệu quả từ thuỷ lợi mang lại, chẳng những diện tích, năng suất và sản lượng lúa tăng lên đáng kể mà cơ cấu trong nông nghiệp cũng được chuyển đổi mạnh, mang lại hiệu quả lớn. Những trang trại, hộ gia đình có thu nhập bình quân từ 200 triệu đến 450 triệu đồng/héc-ta/ năm đã xuất hiện ngày một nhiều ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long hay ở cả vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên...Thuỷ lợi đó thực sự trở thành một ngành kỹ thuật – kinh tế quan trọng, giúp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế, bảo vệ và cải tạo môi trường, phát triển văn hoá xã hội…đúng như Lê Nin đã từng nói: “Công tác thuỷ lợi là cần thiết hơn cả, chính nó sẽ tái tạo đất nước, sẽ chôn vùi quá khứ, sẽ củng cố bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội”.

Thực tế đã chứng minh điều đó. Thuỷ lợi Việt Nam đã trải qua một chặng đường dài đầy gian nan thử thách và đã giành được những thành tựu lớn lao, đáng được ghi nhận; nhưng cũng đang phải đối mặt với những thách thức ghê gớm trước tình hình biến đổi khí hậu ngày càng trở nên trầm trọng, đòi hỏi chúng ta, mà trước hết là những người trực tiếp làm công tác thuỷ lợi, phải có nếp nghĩ mới và cách làm mới, để cho Thủy lợi mãi mãi thân thương, rất đỗi tự hào! Để cho bản tình ca của đất và nước mãi ngân vang!

Hải Dương, vụ lúa chiêm 2010

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
Hà Quang
Bình luận Gửi phản hồi